Lịch sử ra đời các loại sáo trên thế giới

Lịch Sử ra đời các loại sáo tiêu trên thế giới

Cây sáo được phát mình như thế nào?

  • Bắt nguồn từ tiếng kêu của cây lau sậy khi có gió thổi qua, từ đó qua nhiều  cảm hứng sáng tạo của các “nghệ sỹ xưa” mà cây lau sậy tầm thường đã trở thành một nhạc cụ âm nhạc có thể dùng để diễn tấu ở thời nay.

Sự lâu đời và đa dạng của sáo (tiêu sáo)

  • Cây Sáo có một lịch sử cổ xưa và lâu đời
  • Trở về với thời xa xưa ở những vùng lục địa, các nước, dân tộc, … khác nhau , cây sáo được chế tạo theo nhiều dạng khác nhau.

Tại sao cây sáo lại có thể phát ra âm thanh

  • Những giả thuyết cho rằng có nhiều cách thổi trên cây sáo để tạo nên độ rung. Nhưng chung qui cũng một luồng hơi cắt trên góc cạnh của lỗ thổi . Có những loại sáo với nhiều ống, những ống ghép lại thành ống đứng thẳng và khi hơi thổi ngang trên đầu ống đụng vào thành ống tạo nên âm thanh. Nhưng thỉnh thoảng có những ống được khoét bên thành ống cũng tạo ra âm thanh
    Ấn để xem thêm

Các loại sáo

Flageolets hoặc sáo Fipple

  • Là loại sáo có dăm, hay được thổi bằng dăm kèn gắn trên miệng ống.
  • Sáo Fipple ,khi hơi thổi thẳng đụng phải lỗ trong lòng ống.

Sáo Transverse Flute:

  • Transverse Flute là một loại sáo có nét đặc trưng là lỗ khoét bên ngang sát ở đuôi ống. Người chơi sáo khi thổi 1 luồng hơi mạnh ,luồng hơi ngang qua lỗ sáo để mà bật vào góc cạnh tạo nên độ rung. Có những loại sáo của thổ dân sống ở đảo Thái Bình Dương thổi bằng mũi
  • Hình ảnh sáo Transverse 1880 Transverse (Boxwood ) Transverse Thế Kỷ 18,France

Sáo Piccolo:

  • Sáo kim loại ngắn với những note nhạc cao (Sáo Piccolo)
  • Từ ống sậy rỗng có khả năng tạo nên 1 note nhạc đến những thành tựu khác với những khám phá
  • Hình ảnh sáo Piccolo:

Sáo Panpipe và Syrinx – sáo quạt:

  • Nối vài ống có chiều dài tương đương , chúng ta có loại sáo quạt Panpipe hoặc Syrinx.

Sáo Panpipes

  • Nhưng khám phá thiết yếu là trong một ống sáo có thể tạo ra nhiều note bởi khoét nhiều lỗ bấm.Trong những lưu giữ từ cổ xưa, trong Genesis và trong Kinh Thánh, trích dẫn thì người Jubal là cha đẻ của đàn Harp và sáo.Trong kinh thánh có viết về vấn đề này, nhưng hiện nay trường phái ghi chép về kinh thánh vẫn còn do dự khi nói những loại nhạc cụ đó. Một dấu vết đến từ một nơi cổ xưa từ Sumeria và Ai Cập, gần vùng Địa Trung Hải, nhưng hầu như là từ tranh ảnh( hình ảnh trên các đền thờ).
  • Những văn minh cổ xưa với những ống cây lau, cây sậy ,ống cây, vành cắt ở miệng thổi,ống dài không lỗ bấm cho đến sau đó là 3,4 lỗ bấm . Những ống chôn từ những ngôi cổ mộ được khai quật cho thấy nhiều loại sáo 3 lỗ bấm. Nhạc cụ nầy dường như bắt đầu từ những người chăn cừu và sau nầy phối hợp dùng trong các nghi lễ tôn giáo

Sáo 3 lỗ thổi ở đầu ống của Peru vào thế kỷ 19

  • Một số sáo sớm được thực hiện trên xương ống chân thú vật. Bộ môn sáo cũng luôn luôn là một phần thiết yếu của nền văn hóa Ấn Độ và trong những truyền thuyết thần thoại, và qua sáo Tin của một số tài liệu để có nguồn gốc và văn học ở Ấn Độ , cũng từ 1500 trước Công Nguyên đã có những tài liệu về sáo

Sáo thổi ở đầu ống làm bằng xương 1900

  • Các sáo cổ nhất từng được phát hiện, mặc dù đây là tranh chấp, có thể là một mảnh của xương đùi của một con gấu hang động chưa thành niên, với 2-4 lỗ, tìm thấy tại Divje Babe tại Slovenia và ngày đến khoảng 43.000 năm trước. Trong năm 2008 sáo tì m được trở lại ít nhất là 35.000 năm trước đây đã được phát hiện trong hang động FELS Hohle gần Ulm, Đức .Sáo 5 lỗ có một hình chữ V-ống tẩu và được làm từ một xương cánh con kên kên. Các nhà nghiên cứu tham gia vào việc phát hiện chính thức công bố những phát hiện của họ trên tạp chí Nature, trong tháng 6 năm 2009 . Việc phát hiện ra cũng là lâu đời nhất đã xác nhận tìm thấy bất kỳ nhạc cụ trong lịch sử . Sáo, một trong một số những cổ vật, đã được tìm thấy trong FELS Hohle Hang cạnh Venus của Hohle FELS và một khoảng cách ngắn từ lâu đời nhất được biết đến con người biết cách khắc. Về thông báo phát hiện, các nhà khoa học đề xuất rằng “tìm thấy chứng minh sự hiện diện của một truyền thống âm nhạc được thành lập vào thời gian đó khi con người hiện đại, thuộc địa châu Âu “. Các nhà khoa học cũng đã đề xuất rằng sự phát hiện của sáo có thể giúp giải thích” nhận thức giữa “người Neanderthal và con người hiện đại đầu

1300-1500

  • Sáo có 9.000 năm tuổi Gudi (nghĩa đen, “xương sáo”), được làm từ xương cánh của hạc đỏ đăng quang, với 5-8 mỗi lỗ, đã được khai quật từ một ngôi mộ tại Jiahu ở tỉnh miền Trung của Trung Quốc Hà Nam .Một loại sáo có ba lỗ, 18,7 cm, được làm từ một răng nanh voi ma mút (từ hang động Geißenklösterle, gần Ulm, ở miền nam Đức Swabian Alb và ngày đến 30.000 đến 37.000 năm trước) được phát hiện vào năm 2004, và hai sáo làm từ xương thiên nga khai quật một thập kỷ trước đó (từ hang cùng ở Đức, ngày đến khoảng 36.000 năm trước) là một trong các nhạc cụ cổ nhất được biết đến âm nhạc.Phụ nữ Trung Quốc biết chơi sáo, từ thế kỷ thứ 12 thời nhà Tống nổi bật là Đêm dạ tiệc của Hàn Xizai, ban đầu nguyên thủy do Cố Hoành Trung ( thế kỷ thứ10t ) .Cây sáo ngang sớm nhất hiện còn là Sáo Chi (篪chi) sáo phát hiện trong lăng mộ Hầu Tước Marquis Yi Tùy Châu, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Cây Sáo có từ 433 trước Công nguyên, sau đó đến thời nhà Chu. Đây là thời đại của sáo tre với lỗ thổi và có năm lỗ thay vì lổ thổi trên đầu ống. Sáo Chí được đề cập trong Shi Jing, biên dịch và biên của Khổng Tử theo truyền thống.

Sáo Jiahu (ca 5700-7000 BC)

  • . Sách Cựu Hebrew thuật ngữ dùng để chỉ một số dụng cụ gió, hoặc gió cụ nói chung, các dụng cụ sau để một nhạc cụ dây, hoặc dây nói chung. Như vậy, Jubal được coi trong Judeo-truyền thống Kitô giáo như là người phát minh ra các sáo (một từ được sử dụng trong một số bản dịch này qua kinh thánh). Một số sáo sớm được thực hiện trên tibias (xương shin). Các sáo cũng luôn luôn là một phần thiết yếu của nền văn hóa Ấn Độ và thần thoại,và qua sáo tin để có nguồn gốc ở Ấn Độ như văn học, Ấn Độ từ 1500 trước Công Nguyên đã có những tài liệu tham khảo mơ hồ cho sáo chéo

 

 

  • Người Hy Lạp trước tiên đã có 6 lỗ bấm, như vậy nhạc cụ có thể chơi được nhạc điệu và âm giai họ có thể điều chĩnh. Thực ra người Hy Lạp thích chơi loại kèn.Ống có lưỡi gà hơn cả loại không có lưỡi gà , sáo chỉ để cho người chăn cừu, người ở các làng mạc nhỏ và người ăn xin, Cây Aulos( tiền thân của cây Oboe sau nầy), là một trong nhạc cụ được ưa chuộng , sự hối tiếc xem thường cây sáo cho đến khi Middle Ages ( 1453)( lịch sử âu châu từ năm 1000-1453 thời trung cổ) khi cây sáo được du nhập vào từ Bắc Âu Châu vào, trong khi đó dĩ nhiên người ta vẫn chơi sáo cho dù cây sáo được nâng cao hay bị vùi dập.
  • Trong thế giới ngày nay , con người trở nên khó khăn, giữ nguyên thủy hay cải tiến, cũng không thể chơi một vài loại sáo. Loại sáo dài 6 foot lớn ở New Guinea đến loại sáo “Bushman” của Africa làm bằng loại lông chim đà điểu. Sáo Flageolet là một trong các thể loại sáo có khắp nơi. Ở Java có loại sáo gọi là Suling chơi với giàn nhạc gồm chủ yếu các nhạc khí trống mõ . Miền Bắc Ấn Độ có loại sáo gọi Apache..

 

  • Ấn Độ và Nhật Bổn là đất nước đặc biệt về xử dụng bộ môn sáo. Người Hindu thường chơi loại sáo Transverse với những lỗ bấm , được gọi là murli. Tên gọi bansari là tên gọi chung cho tất cả các loại sáo. Nguồn gốc các loại sáo làm bằng trúc (banse có nghĩa là tre, trúc ), thông thường thổi dưới 2 bát độ, vài loại thổi đầu ống như sáo murli. Chúng ta có thể nghe loại sáo nầy trong giàn nhạc Ấn Độ hay trong các phim âm nhạc rất phổ biến trên ở Ấn

Sáo Bansuri

Sáo Bansuri 7 lỗ

  • Sáo bansuri (Tiếng Hindi: बांसुरी); (Vietnamese: বাঁসুরী) là một sáo alto ngang của Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Nepal, sáu hoặc bảy lỗ . Một loại nhạc cụ cổ gắn liền với truyền thống chăn bò và các chăn cừu, nó gắn liền với những câu chuyện tình yêu sâu sắc của Krishna và Radha, và được mô tả trong bức tranh Phật giáo từ khoảng 100 AD. Đó là những lời thơ được khắc trên sáo với giai điệu trữ tình về lila Rasa Krishna’s; những giai điệu trên sáo thơ của ông đã làm phụ nữ ở Braj say đắm. Các bansuri Bắc Ấn Độ, thông thường khoảng 14 inches dài, theo truyền thống thổi giai điệu chính trong tác phẩm âm nhạc nhẹ bao gồm cả nhạc phim. Có nhiều kích cỡ của bansuri từ 14′ đến 30′
  • Các bansuri bắt nguồn từ trong tiếng Phạn là trúc, tre + swar (note nhạc). Có hai loại giống của bansuri: các ngang, và fipple này. Sự đa dạng fipple được gắn bởi 1 cái còi thường chơi trong âm nhạc truyền thống dân gian . Bởi vì sự dễ dàng , sự đa dạng ngang nên được ưa thích trong âm nhạc cổ điển.
  • Pandit Pannalal Ghosh (1911-1960) là nhà làm sáo và chơi sáo Bansuri nổi tiếng, ông đã cải tiến cây Sáo từ một nhạc cụ dân gian vào trong âm nhạc cổ điển. Ông cải tiến chiều dài và số lỗ và ngay cả độ dày của vòng chung quanh lỗ và mỗi lỗ hơn nghiêng 90 độ từ khoảng cách đường thẳng trong sáu lỗ khác. Bansuris cải tiến tạo nên một octaves thấp hơn.

Sáo Ấn Độ

  • Có nhiều kiểu sáo được đề cập trong cuốn sách Hindu, thánh kinh Veda. Thần Krishna vĩ đại đã chơi sáo trong khi ông còn trẻ chăn bò (những cậu bé chăn chiên Ấn Độ ngày nay vẫn giữ truyền thống nầy), và thần Indra hợp cùng các thần khác chơi sáo để tạo thành một giãi thiên thể ngân hà
  • Sáo ngang của Ấn Độ rất phổ biến từ 2.000 năm trước và vẫn còn được chuộng cho đến nay . Sáo cổ điển Ấn Độ làm bằng ống trúc có nhiều đốt.Những ống sáo rất dài nhiều đốt rất thẳng , mỏng , 6 lỗ bấm – Và vì dài khoảng cách giữa các ngón bấm không bằng đầu ngón tay mà bấm giữa các đốt tay . Thang âm chính của loại sáo nầy được nhận ra giống như thang âm trưởng của Tây Phương. Tuy nhiên, người Ấn Độ tạo ra 1 phương cách khác nhau để thổi, âm thanh của note nhạc của 3 ngón bấm đầu tiên sẽ là note nhạc đầu tiên của thang âm , và note nhạc thứ 4 người chơi sáo bấm nữa lỗ đầu tiên . Nếu như cây sáo được thổi với note nhạc trầm như note đầu tiên thì lại không bấm nữa lỗ , và như thế thì ta lại nghe như thang âm trưởng Tây Phương
  • Có rất nhiều thang âm trong nhạc Ấn Độ , và để chơi được , người thổi sáo phải bấm nữa lỗ. Ngoài ra , nhạc Ấn đòi hỏi nhiều kỷ thuật rung, vuốt ,láy và nhiều kỷ thuật tinh tế , lối nhấn , mang sắc thái , kết hợp với làn hơi ,ngón, mà những kỷ thuật nầy không áp dụng trong sáo tây , mà là cảm giác từ ngón tay với lỗ bấm . Sáo hiện đại ngày nay , được sản xuất với những hiệu ứng kém để theo với phong cách âm nhạc của Ấn , Do đó người Ấn vẫn chuộng sáo Trúc hơn là sáo làm bằng kim loại

Sáo Nhật Bản

  • Nhạc Nhật Bản , giống như nghệ thuật của người Nhật chắc chắn với truyền thống dân tộc . Một giàn nhạc nhỏ chơi gagaku (loại nhạc trang nhã) cho vũ điệu bunraku với 2 loại sáo , Hichiriki , loại sáo flageolet với 9 lổ bấm và loại sáo Transverse . Hệ thống sáo cổ truyền với ” âm nhạc tay trái”( left hand music ) với loại sáo 7 lỗ bấm và ” âm nhạc tay phải ” với 6 lỗ bấm. Người Nhật Bổn còn có loại thổi đầu ống , đầu lổ thồi cắt theo hình chữ V, gọi là Tiêu, Phong tiêu , cây Shakuhachi, 4 lổ theo âm giai ngũ cung D- F- G-A-C.. đó là điểm đặc thù của nhạc Nhật Bổn , nhưng đồng thời những nốt nhạc khác được tạo trên ống Tiêu qua cách, lối bấm ngón trên lỗ bấm , và âm giai của cây Shakuhachi hòan toàn thay đổi.
  • Sáo truyền thống của Nhật Bổn, phản ảnh nhiều khía cạnh văn hóa của người Nhật. Sáo ngang của Nhật Bổn gọi là Fue , hiện là là loại sáo phổ biến nhất hiện nay tại Nhật Bổn , như khi du nhập vào Nhật Bổn. Từ khi loại sáo ngang được sản xuất , nó đã phát triển thành một số hình thức khác biệt , một trong số những loại hình thức âm nhạc : lễ hội âm nhạc , nhạc kịch ,nhạc trong tòa án….

Sáo Komabue cho Court Music ( Nhạc cho Tòa Án)

  • 1000 năm công nguyên Thiên Chúa Giáo sinh ra đời, Âu Châu chậm tiến so với Đế Quốc La Mã (Byzantium) và Đông Phương. Sự phát triển, học hỏi, hưởng thụ xa hoa đều được xuất phát từ các nước Á Đông. Vậy nên, âm nhạc và các nhạc cụ cũng phát triển. Cây sáo là nhạc cụ đầu tiên tiên phong giao lưu với nền văn minh phương Tây, ban đầu chỉ là cây sáo đơn giản chơi với loại trống nhỏ , sau đó được du nhập qua Âu Châu khõang giữa thế kỷ 12. Loại ống với loại sáo 3 ngón lỗ bấm, gồm 2 ngón đằng trước . 1 ngón đằng sau bấm bằng ngón tay cái, và nguời chơi chỉ bằng 1 tay . Bàn tay kia thì dùng để đánh nhịp trên trống nhỏ. Còn chân thì tự do để nhảy múa. Các bạn thử tưởng tượng lúc đó cây sáo chưa vào thị trường thương mại , nhưng khi đã vào thị trường mua bán , sáo đã được chấp nhận một cách trân trọng , một nhạc cụ có giá trị để có một chân đứng trong bất cứ giàn nhạc giao hưởng. Khi ống cây lau có thể chơi thành đạt được âm giai bởi thổi tới được 2 hoặc 3 âm hòa điệu của các nốt chấm dứt C-D-E- hoặc F và 2 âm hòa điệu với G-A-B và C là sẽ là 3 âm hòa điệu.

 

  • Lúc đó trong 1 thời gian, 2 họăc nhiều sáo có thể tấu chung một cách tiến bộ. Ở đông Âu châu đã xuất khẩu loại sáo transverse qua Đức, nơi mà cây sáo đã từng thiết lập từ thế kỷ 12 , trong thế kỷ 15 một loại sáo chơi cho nhạc quân hành( trong quân đội ) được thổi với trống , có thể mở rộng vừa chơi nhạc quân hành mà còn có thể chơi trong các lễ tiệc hội hè Trong khi đó loại sáo Flageolet lại lưu đến vùng miền Nam và miền Bắc . Đây là loại sáo có đầu thổi như kèn có từ thế kỷ 14 , chung chung loại nhạc cụ nầy có được cải tiến , song cũng vẫn giữ hình thể , tình trạng như xưa

 

Transverse 1720French

 

Recorder làm bằng gỗ năm 1889 Germany

Transverse Germany 1795

  • Kena là tên của các nhạc cụ truyền thống Andes,. Nhưng ngày nay nó được các nhà làm sáo dân gian thay đổi với một dăm kèn ở đầu ống , và hệ thống thang âm theo Tây Phương, và được đánh giá tương tự như là loại thổi ngang

Kena thế kỷ 20

  • Panpine ,một trong những họ Sáo Andean,làm bằng một chuỗi ống với những chiều dài khác nhau , không có lỗ bấm, bịt 1 đầu cuối ống,kết chặc với nhau bằng những sợi dây .Thổi trên mỗi đầu ống, mỗi ống là 1 note , để có giòng nhạc liên tục,người nhạc công phải thổi thổi nhanh và chính xác. Sau đó sáo được làm thêm 1 dãy ống liên kết nhau.Đôi khi, người nhạc công tách rời 2 dãy ống ,để 2 người nhạc công có thể tấu chung 2 bè sáo .Thông thường tấu như thế,họ chơi 1 nhóm nhiều người . Vào ngày lễ hội của Andea , cây Panpipe được chia ra 2 nhóm, mỗi nhóm chơi 1 dãy ống , và khi họ tấu chung với nhiều người trong 1 nhóm , thì có nhiều ống Panpine với nhiều kích thước khác nhau, có những ống trúc to có chiếu dài 4 feet
  • Panpipes và Nay ngày nay đôi khi có thể được tìm thấy, nhưng loại nhạc cụ nầy vẫn chưa được sản xuất làm sáo hoạch định

 

Sáo Fipple ,năm 600-900 làm bằng gốm của Mexixo

 

Sáo Stopper Africa

 

Sáo Huaycheno ,thế kỷ 20 , loại có dăm kèn, của Bolivia

Sáo Tarka ,thế kỷ 20 ,làm bằng gỗ

Sáo Fuma Thế kỷ 20 Bolivia Reed Wood

 

  • Cây Ocarinas thông dụng ở vùng nơi đây , đây là loại sáo thuộc loại “Block Flutes” (ống sáo Khối ), họ làm không hoàn toàn bằng trúc , mà có hầu hết những ống làm bằng đất sét. Loại Sáo Ocarinas , không quan trọng ở những lổ bấm mà các ngón tay của người tấu đóng , mà là càng nhiều lỗ được mở là tạo ra nhiếu note nhạc cao. Do đó , loại sáo nầy khi được làm ,thành hình thể của cánh chim ,hình thể thú vật và có mầu sáng

 

 

Ocarina (năm 1300-1500) Tairona people –

 

Ocarina(1300-1500) ————————1300-1500 làm bằng Ceramic

Tairona people

  • Trong khi đó ở vùng North America, là một trong những nhóm chính cho trường phái Sáo hiện đại .Nhưng tại Ấn Độ , lại là vùng đất rộng lớn nhất chuộng loại Sáo Khối (Block Flute ). Nhưng loại Sáo nầy , lại được làm bằng gỗ , xương của chim ,đá phiến sét (shale )

Sáo Làm bằng đất sét

Pottery Flute 1889

Sáo Làm bằng đất sét

Clay 1299-1521

 

  • Miền Trung của Woodland và các khu vực ở Great Plains . Sáo truyền thống được thổi bởi các những thanh niên Indians trẻ , tấu lên những khúc nhạc tỏ tình với những cô gái. Đồng thời , sáo cũng được tấu lên trong những nghi thức lễ hội mùa màng và ca múa . Sáo là biểu tượng quan trọng trong các lễ nghi Hopi
  • Một sự phát sinh mới của những người làm sáo trong dân gian và những nhà sản xuất sáo có xu hướng theo Tây Phương.

Sáo làm bằng Clay

năm 300-900

 

  • Tại Africa rất có nhiều loại sáo khác nhau , từ loại ống 1 lỗ với cái còi gắn vào ,cho đến ống thổi ở đầu ống . Những nhóm thành lập ban nhạc sáo rất phổ biến .Ở vùng Nam Phi ,có ban nhạc , 1 thành viên thủ ống dài chỉ có 1 note nhạc và chỉ thổi ở những giai điệu thich hợp. Tuy nhiên,cùng 1 ống ,nhưng người chơi có thể tạo nhiều note nhạc khác nhau bằng cách điều chĩnh luồng hơi thở và bàn tay đóng ,hoặc mở ở cuối ống ( đây cũng là hình thức của Phong Tiêu )

Sáo trúc của người Châu Phi, thế kỷ 19

  • Ở Châu Phi, người ta tin rằng âm thanh của sáo có quyền lực siêu nhiên,được sử dụng như một sự trợ giúp trong nghi thức khác nhau, như giao tiếp với tinh thần, mang mưa, bão dừng, chữa bệnh, và bảo vệ khỏi nguy hiểm khác nhau.
  • Sáo-Mũi , thổi sáo bằng mũi, được sử dụng bởi người châu Phi và họ tin rằng người đặc biệt, mạnh, vì hơi thở từ lỗ mũi có linh hồn

Sáo Woo , thế kỷ 16

 

  • Tại Đông Âu , những người tấu bộ môn sáo được gọi ” những người phổ ống đại đồng của mục tử (người chăn chiên)” câu nầy bắt nguồn từ Châu Âu trong lễ Phục Sinh. Âm nhạc của mục tử là một phần quan trọng của nhiều nền văn hóa địa phương, và ống sáo của chăn chiên, một sáo block với sáu lỗ, là một trong những nhạc cụ chính của họ .Nhiều loại khác sáo cũng được sử dụng, bao gồm Sáo khối, sáo đôi, trong đó ống thứ hai dùng để đệm bè
  • Panpipes gỗ chạm khắc đẹp được sản xuất và đóng tại Đông Âu. Tất nhiên, Hy Lạp ,nguồn gốc của truyền thuyết cho rằng các panpipes tên là của họ – Bởi phát minh nhạc cụ của mình dâng hiến cho Chúa Trời

Zambona , Pre-Inca hoặc Pan Flute

 

  • Ở Tây Âu, chúng tôi thấy có hai loại hình cơ bản của sáo: Sáo Khối (Block Flutes )và Sáo ngang . Sáo Khối bao gồm Recorder , cây Penny hoặc và Tin Whistle ( còi làm bằng kim loại )

 

Tin Whistle

Whistle ,thế kỷ 19 người Lunda ,làm bằng xương, vỏ ốc và dây

Whistle , thổi ở đầu ống , đầu thế kỷ 20 của người Kuba, Ngent, Yaka

 

Whistle , thế kỷ 20 của người Kuba ,làm bằng gỗ

Sáo Whistle Thế kỷ 20 Bamenda People

  • Loại Sáo Còi 3 lỗ , được tìm thấy trong nhiều nước , nhưng mỗi nước gọi mỗi tên khác nhau . Ở Pháp gọi “Galoubet ” , và “Fluviol” ở Tây Ban Nha .Loại Sáo nầy được chơi bằng 1tay và tay kia ,người nghệ sĩ dùng để chơi trống ( đã trình bày nhạc cụ nầy ở trang 4) và thường dùng để đệm cho những điệu múa dân gian . Sáo được xử dụng với âm thanh hài hòa (harmonic) , 2 bát độ hoặc hơn khi dùng bán âm(diatonic )

Galoubet của Pháp năm 1770

  • Ở Âu Châu cây sáo ngang được phát triển hết sức tinh vi và phức tạp, được định hướng theo kỷ thuật học,công nghệ của thế giới . Cuối cùng sự tiến hóa nầy là sản xuất cây sáo hiện đại ngày nay

Sáo Walking Stick ,Germany 1750

 

  • Ở vùng đất Nam Thái Bình Dương và Úc , người ta thấy có nhiều loại sáo Panpipe. Melanesia (tập hợp các hòn đảo phía đông bắc của Úc) .Nơi đây loại sáo -mũi phổ biến.Ở New Guinea , người dân tin tưởng là có linh hồn ngự trị trong ống sáo .Cây sáo được đặt trong đền thờ tôn kính trước khi được đem ra tấu trong những nghi lễ lớn . Sáo cũng được tấu trong nghi lễ mùa màng.

Sáo Fan Trible , làm bằng gô

Duct Flute ,thế kỷ 19

Haida- Skidegate

Native American

  • Sáo Trung Quốc được gọi là “di” (笛). Có nhiều loại di với kích cỡ khác nhau, cấu trúc (có hoặc không có màng cộng hưởng) và số lỗ (6-11)âm chuẩn tại Trung Quốc. Hầu hết đều được làm bằng tre. Một trong những tính năng riêng về sáo Trung Quốc là sử dụng một màng cộng hưởng gắn trên một trong những lỗ mà rung với cột không khí bên trong ống. Nó cho âm thanh một sáo tươi sáng. Thường thấy sáo trong dàn nhạc Trung Quốc hiện đại là bangdi (梆笛), qudi (曲笛), xindi (新笛), Dadi (大笛). Các sáo chơi theo chiều dọc được gọi là “Xiao” (箫) mà là một loại nhạc cụ bộ hơi khác nhau tại Trung Quốc.

Sáo Dizi , thế kỷ 18 , chưa rõ là của Trung Quốc hay Đại Hàn

 

Sáo Miteki ,Trung Quốc ,thế kỷ 19

Tiêu Pina ,Thế Kỷ 19

 

Sáo của người Da Đỏ (Courting Flute ) 1850

 

Tiêu Thế Kỷ 19

Sáo hiện đại :

loại sáo thông dụng, người thổi huyệt khẩu, những lỗ bấm cùng chiều với ống trúc

  • Thời nay, sáo hiện đại ,có thể làm bằng nhiều nguyên liệu, ngoài tre, trúc, gỗ , đất sét , men ,đồng , nhựa , tráng men trên nhiều ống sáo đồ gốm vô cùng đẹp. Những ống sáo này có một xu hướng để bị gãy, nhưng có thể sửa lại với keo dán. Cây gỗTrắc hoặc gỗ Cẩm Lai ,hiện thời là một điều được ưa chuộng trong số những nhà sản xuất ống sáo làm bằng gỗ. Sự gia công bằng máy chính xác khả dĩ trên cây gỗ, và những ống sáo nhựa hơn là làm bằng tay.Tre ,Trúc có nhiều ở đất nước Đông Nam Á.
  • Cây Trúc, một số nó bản ngữ, nhưng hầu hết được trồng lên tính cách thương mại ở Taiwan- hiện thời là phổ biến nhất .Đó là một trong cơ chế sản xuất mang tích cách cá nhân nhiều nhất , vì mỗi bộ phận làm là phần là duy nhất và yêu cầu làm việc hơi khác nhau của nhà sản xuất sáo, những sáo được vững chắc, trừ khi chịu nhiệt độ đột ngột hay độ ẩm cực

 

Sáo Porcelan

Sáo làm bằng thủy tinh

Tiêu Notch,Bolivia Thế Kỷ 19

 

Tiêu Palm Duct

 

Sáo thổi ở đầu ống của người Da đỏ , thế kỷ 19

Sáo Hun ,Korean làm bằng Ceramic

Sáo Quena Andean People, South American

 

Sáo Sulin-Indonesia

 

Sáo Danso Korean

 

Sáo Tsixtu

Tiêu Kaval ,Thế Kỷ 19 ,Wood

 

Tiêu Kaval ,Thế Kỷ 19

 

Shop sáo trúc Lãng Tử: chuyên sáo ngang trúc nứa, sáo bầu, sáo mèo, tiêu bát khổng, tiêu trúc tím, các loại sáo Tàu được nhập khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Các bạn có nhu cầu có thể ghé thăm Shop sáo trúc uy tín chất lượng
ban sao truc
Shop bán sáo trúc giá rẻ - giao hàng toàn quốc
mua sao truc
Click để vào xem và mua sáo trúc, tiêu, ...
Lãng Tử Sáo

Lãng Tử Sáo

CHẾ TẠO TIÊU SÁO at SHOP LÃNG TỬ SÁO
Tôi đam mê tiêu sáo
Bộ môn âm nhạc truyền thống sáo trúc
Tôi đam mê chế tạo
Để tạo ra những cây tiêu, sáo tốt nhất
Hãy mua sáo ủng hộ tôi nhé!
Lãng Tử Sáo

Bình luận

Bình luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *